Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search
GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP TỈNH QUẢNG NAM, THÀNH QUẢ ĐẠT ĐƯỢC TRONG 5 NĂM QUA, ĐỊNH HƯỚNG NHIỆM VỤ TRONG 5 NĂM ĐẾN

Nguồn nhân lực là động lực cho sự phát triển kinh tế nói riêng và là động lực phát triển xã hội, con người nói chung. Một quốc gia muốn phát triển thì cần phải có nhiều nguồn lực như: tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học - công nghệ, con người … Trong các nguồn lực đó, thì nguồn nhân lực (con người) là quan trọng nhất, có tính chất quyết định đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội của mọi quốc gia. Một quốc gia cho dù có tài nguyên thiên nhiên phong phú, máy móc kỹ thuật hiện đại… nhưng nếu không có những con người có trình độ, có đủ khả năng khai thác các nguồn lực đó thì khó có khả năng đạt được sự phát triển như mong muốn.

Riêng ở tỉnh Quảng Nam, với mục tiêu phấn đấu sớm cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp, Hội nghị Tỉnh ủy lần thứ tư (khóa XXI) đã xác định: phát triển nguồn nhân lực là một trong ba nhiệm vụ đột phá trong giai đoạn 2016-2020 (cùng với đầu tư kết cấu hạ tầng đồng bộ và cải thiện môi trường đầu tư). Trong phát triển nguồn nhân lực, giáo dục nghề nghệp (GDNN) chiếm giữ một vai trò hết sức quan trọng, bởi vì GDNN có nhiệm vụ đào tạo nhân lực trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, trong khi đó đội ngũ nhân lực trực tiếp này chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng nguồn nhân lực các ngành, lĩnh vực.


(Thực tập nghề Điện công nghiệp tại Trường Cao đẳng Thaco)
Trong những năm qua, bên cạnh những chủ trương, chính sách của Trung ương, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Quảng Nam đã ban hành nhiều nghị quyết, chương trình, đề án, kế hoạch về phát triển GDNN, theo đó, những định hướng phát triển, những cơ chế chính sách, nguồn lực đầu tư cho GDNN đã được xác định cụ thể, tạo cơ sở vững chắc và hướng đi phù hợp cho GDNN phát triển. Đặc biệt, tỉnh Quảng Nam đã ban hành Cơ chế hỗ trợ đào tạo nghề cho các chương trình, dự án trọng điểm và các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016-2020 (Cơ chế này đã được HĐND tỉnh thông qua tại Nghị quyết số 12 ngày 19/7/2016, UBND tỉnh ban hành tại Quyết định số 3577 ngày 14/10/2016). Với cơ chế này, bên cạnh các chính sách do Trung ương quy định, tỉnh Quảng Nam cũng đã mạnh dạn đưa ra nhiều chính sách hỗ trợ vượt trội riêng của tỉnh, với mục tiêu là đào tạo lao động, nhất là lao động là người dân tộc thiểu số để vào làm việc tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Trong quá trình tổ chức thực hiện các hoạt động GDNN trên địa bàn tỉnh, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội đã triển khai nhiều giải pháp nhằm đảm bảo chất lượng và hiệu quả đào tạo, như:

- Tổ chức các diễn đàn đối thoại với doanh nghiệp, khảo sát thực tế tại các doanh nghiệp… Thông qua các lần đối thoại, khảo sát này, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội đã tổng hợp được nhu cầu của thị trường lao động, đây chính là cơ sở quan trọng cho việc xây dựng kế hoạch GDNN của tỉnh hằng năm. Với cách làm này, có thể nói rằng ngành nghề đào tạo, chỉ tiêu đào tạo ở kế hoạch GDNN hằng năm được xác định trên cơ sở nhu cầu của thị trường lao động và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, chứ không phải dựa trên năng lực sẵn có của hệ thống cơ sở GDNN, gắn tuyển sinh với tuyển dụng. Chính vì vậy, trong những năm gần đây, tỉnh Quảng Nam đã hạn chế được việc đào tạo những nghề mà thị trường lao động đã bão hòa hoặc không còn có nhu cầu như: văn thư lưu trữ, vi tính văn phòng, tài chính kế toán...;

- Đã chỉ đạo, hướng dẫn các cơ sở GDNN trên địa bàn tỉnh liên kết, phối hợp với các doanh nghiệp trong việc xây dựng chương trình đào tạo, tổ chức cho người học nghề thực tập tay nghề, thực hành sản xuất tại các doanh nghiệp, mời chuyên gia kỹ thuật của doanh nghiệp trực tiếp tham gia giảng dạy, phối hợp trong việc cung ứng lực lượng lao động qua đào tạo... Việc gắn kết này đảm bảo chương trình đào tạo tại nhà trường phù hợp với yêu cầu sản xuất của các doanh nghiệp, người học được học những nghề phù hợp với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, được thực tập tay nghề và thực hành sản xuất ngay trên các máy móc, thiết bị đang sử dụng tại doanh nghiệp, do đó có thể áp dụng được những kiến thức, kỹ năng đã học vào sản xuất ngay từ ngày đầu vào làm việc cho doanh nghiệp, khắc phục được tình trạng doanh nghiệp phải đào tạo lại.

- Trong triển khai thực hiện các chính sách hỗ trợ đào tạo lao động, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội đã tham mưu UBND tỉnh phân cấp về các huyện, thị xã, thành phố để trực tiếp tổ chức các lớp đào tạo nghề cho người lao động trên địa bàn (từ năm 2012). Sự phân cấp này đã tạo điều kiện cho các địa phương chủ động hơn trong việc đào tạo nhân lực phục vụ các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.

Nhờ sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, sự quan tâm phối hợp, hỗ trợ của các ngành, địa phương, sự cố gắng nổ lực của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động tại các cơ sở GDNN, cùng với việc triển khai đồng bộ nhiều giải pháp tích cực, công tác GDNN của tỉnh 5 năm qua (2016-2020) đã được nhiều kết quả tích cực, tiêu biểu như:

- Quy mô tuyển sinh đào tạo nghề nghiệp của tỉnh đạt bình quân 35.000 người/năm (trong đó, tuyển sinh các cấp trình độ ở các cơ sở GDNN khoảng 23.000 người/năm; đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nghề nghiệp tại các doanh nghiệp, các chương trình khuyến công, khuyến nông…, dạy nghề, truyền nghề, kèm cặp nghề tại các làng nghề truyền thống khoảng 12.000 người/năm). Kết quả này đã góp phần nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh từ 50,06% vào năm 2016 lên 62,01% vào năm 2019, ước đạt 65% vào cuối năm 2020 (đạt mục tiêu đề ra tại Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XXI, nhiệm kỳ 2016-2020). Kết quả này cũng góp phần tích cực cải thiện chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh các năm gần đây. Năm 2019, chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh Quảng Nam được duy trì thứ hạng cao của năm 2018, với điểm số tổng hợp là 69,42 điểm, tăng 3,57 điểm so với năm 2018, riêng chỉ số thành phần đào tạo lao động đạt 6,67 điểm, tăng 0,08 điểm so với năm 2018, xếp thứ 06/63 tỉnh, thành phố trong cả nước.

- Tỉnh Quảng Nam cũng rất thành công trong việc triển khai thực hiện Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Tổng số lao động nông thôn được hỗ trợ đào tạo nghề giai đoạn 2016-2020 là 14.285 người, trong đó, học nghề phi nông nghiệp là 5.872 người, học nghề nông nghiệplà 8.413 người. Tổng hợp từ báo cáo của các địa phương, có trên 80% học viên tìm được việc làm, tự tạo được việc làm ổn định hoặc vận dụng kiến thức đã học vào thực tế kinh doanh, dịch vụ, sản xuất, chăn nuôi, trồng trọt... Kết quả này đã góp phần quan trọng vào xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới.

- Riêng về việc triển khai thực hiện Cơ chế hỗ trợ đào tạo lao động của tỉnh, từ khi Cơ chế ban hành đến nay đã hỗ trợ đào tạo cho 5.322 người (trong đó 2.614 người là đồng bào dân tộc thiểu số, chiếm 49,1%). Đã hoàn thành khóa học là 4.781 người, đang học dở dang 272 người, bỏ học giữa chừng 269 người. Có tổng cộng 4.573 người (trong đó 1.982 người là đồng bào dân tộc thiểu số, chiếm 43,3%) sau học nghề vào làm việc tại doanh nghiệp, chiếm tỷ lệ 95,6% trên tổng số lao động hoàn thành khóa học. Một số doanh nghiệp tiếp nhận nhiều lao động sau học nghề vào làm việc như: Công ty TNHH MTV Panko Tam Thăng, Công ty TNHH MTV Công nghiệp Germton, Công ty TNHHH MTV Moonchang Vina... Hầu hết lao động là người DTTS sau khi đào tạo được tiếp nhận và làm việc ổn định tại doanh nghiệp với mức thu nhập bình quân 5-6 triệu đồng/tháng.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác GDNN của tỉnh thời gian qua vẫn còn một số hạn chế, bất cập, như:

- Hệ thống cơ sở GDNN của tỉnh thời gian qua chủ yếu phát triển theo chiều rộng, chưa chú trọng phát triển theo chiều sâu; ngành nghề đào tạo ở các cơ sở GDNN còn chưa trọng tâm, trọng điểm, chưa phải là thế mạnh đào tạo ở mỗi cơ sở; một số nghề đào tạo chưa gắn với nhu cầu thị trường lao động; các nghề phục vụ cho sự phát triển của vùng, ngành kinh tế trọng điểm của tỉnh, ngành nghề kỹ thuật công nghệ cao để đón đầu phục vụ cho yêu cầu của CNH-HĐH và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 chưa được đầu tư đúng mức; đào tạo lao động trình độ cao đẳng, trung cấp chiếm tỷ trọng thấp trong tổng số lao động được đào tạo;

- Đội ngũ nhà giáo còn bất cập, nhất là tỷ lệ đạt chuẩn về kỹ năng nghề còn thấp; tỷ lệ nhà giáo có văn bằng, chứng chỉ về ngoại ngữ tuy khá cao như thực tế khả năng ứng dụng trong nghiên cứu và giảng dạy còn hạn chế; chương trình, giáo trình đào tạo chưa cập nhật kịp thời những tiến bộ khoa học kỹ thuật và thực tiễn sản xuất của doanh nghiệp;

- Cơ sở vật chất và trang thiết bị của cơ sở GDNN của tỉnh hiện nay đã bộc lộ một số hạn chế, đó là: tần suất sử dụng thiếu ổn định, nhiều cơ sở vật chất và trang thiết bị xuống cấp, lạc hậu, không phù hợp với yêu cầu thực hành tay nghề của người học khi ra làm việc tại doanh nghiệp… Việc đầu tư cơ sở vật chất ở các trường còn thiếu đồng bộ, có trường thiết bị đào tạo tương đối đầy đủ nhưng thiếu phòng học, xưởng thực hành và ngược lại, có trường phòng học, xưởng thực hành đầy đủ nhưng thiếu thiết bị đào tạo.

Trong giia đoạn đến (2020-2025), phát triển nguồn nhân lực ở tỉnh Quảng Nam chắc chắn sẽ tiếp tục được xác định một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Vì vậy, không thể thiếu vai trò của GDNN. Để phát huy những kết quả đã đạt được, khắc phục những tồn tại hạn chế của công tác GDNN thời gian qua, trong giai đoạn đến, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội xác định một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau:

Một là, nghiên cứu tham mưu Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh ban hành những cơ chế, chính sách về GDNN thực hiện trong giai đoạn 2021-2025, trong đó có các chính sách quan trọng như: đầu tư nghề trọng điểm, hỗ trợ đào tạo lao động, hỗ trợ đào tạo đối với các em học sinh tốt nghiệp THCS thuộc diện phân luồng…

Hai là, Tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền nhằm chuyển đổi nhận thức của toàn xã hội về học nghề, lập nghiệp, dần dần từng bước khắc phục tư tưởng phải học để có bằng cấp vào cơ quan nhà nước trong xã hội hiện nay. Việc tuyên truyền phải sâu rộng và cụ thể từng vấn đề, làm thế nào để toàn xã hội nhận thức được rằng hiện nay thị trường lao động đang rất cần lực lượng lao động kỹ thuật có tay nghề làm việc tại các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ...

Ba là, Thực hiện rà soát, quy hoạch lại hệ thống cơ sở GDNN trên địa bàn tỉnh theo hướng sáp nhập lại một số cơ sở nhằm giảm đầu mối quản lý; giải thể các cơ sở hoạt động không hiệu quả; đẩy mạnh xã hội hóa trong lĩnh vực GDNN, khuyến khích và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tham gia đào tạo lao động...

Bốn là, Tiếp tục đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo hướng chất lượng và hiệu quả. Theo đó, chỉ mở lớp dạy nghề đối với những nghề gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương và gắn với nhu cầu tuyển dụng lao động của doanh nghiệp, những nghề có khả năng giải quyết việc làm sau đào tạo tại doanh nghiệp hoặc người học phải có khả năng tự tạo việc làm, tìm việc làm; ưu tiên dạy nghề gắn với thoát nghèo, dạy nghề tại các xã đăng ký xây dựng nông thôn mới, dạy nghề theo hợp đồng cung ứng lao động cho doanh nghiệp, dạy nghề cho người lao động có cam kết sẽ tìm được việc làm hoặc tự tạo được việc làm sau học nghề.

Năm là, Đổi mới mạnh mẽ phương thức đào tạo theo hướng kiểm soát đầu ra (chất lượng đào tạo và việc làm sau đào tạo); đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, chuẩn hóa chức danh nghề nghiệp cho đội ngũ nhà giáo; gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp ngay từ khâu xây dựng chương trình đào tạo và trong quá trình tổ chức đào tạo nhằm đảm bảo lực lượng lao động được đào tạo tại nhà trường đáp ứng được ngay yêu cầu của doanh nghiệp; ngành nghề đào tạo phải theo yêu cầu của thị trường lao động chứ không dựa trên năng lực sẵn có của cơ sở đào tạo.

Sáu là, Thực hiện tốt chính sách phân luồng đào tạo, đảm bảo tỷ lệ hợp lý học sinh sau tốt nghiệp THCS, THPT vào học tại các cơ sở GDNN nhằm vừa đáp ứng yêu cầu đào tạo lực lượng lao động kỹ thuật, vừa tránh lãng phí trong xã hội (hiện nay có nhiều em năng lực học vấn hạn chế, điều kiện kinh tế gia đình khó khăn song vẫn muốn theo học đại học trong khi tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đại học ra trường hiện nay thất nghiệp rất lớn).

Bảy là, Xây dựng hệ thống dữ liệu hoàn chỉnh về cung – cầu lao động nhằm làm cơ sở cho việc hoạch định kế hoạch trung hạn, dài hạn về đào tạo lao động, tiến tới chấm dứt tình trạng đào tạo tràn lan, không theo nhu cầu của thị trường lao động.

Nguồn tin: Phòng Dạy nghề
Người đăng: Trần Đình Quế .Ngày đăng: 19/01/2021 .Lượt xem: 118 lượt.
[Trở về]
Các tin mới hơn:
Thứ trưởng Lê Tấn Dũng làm việc với Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp
8 nhiệm vụ và giải pháp của giáo dục nghề nghiệp trong năm 2021
TS Trương Anh Dũng, Tổng cục trưởng Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp: Giáo dục nghề nghiệp - khâu đột phá để phát triển nguồn nhân lực
Cam kết cung cấp đủ nhân lực có kỹ năng nghề cho các doanh nghiệp Nhật Bản
Số hóa và Giáo dục nghề nghiệp ở Đức: Những thách thức và cách tiếp cận
Ứng dụng hướng nghiệp trên điện thoại di động - “ILO-Huong nghiep”: Hỗ trợ học sinh lựa chọn nghề nghiệp
Các tin cũ hơn:
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ GẮN VỚI GIẢI QUYÊT VIỆC LÀM CHO ĐỒNG BÀO DTTS – MIỀN NÚI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM THỜI GIAN QUA, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP TRONG THỜI GIAN ĐẾN
Hội thảo truyền thông về giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2021 – 2025
Đa dạng các hình thức truyền thông về giáo dục nghề nghiệp
Mạng lưới cơ sở Giáo dục nghề nghiệp - Ngành, nghề đào tạo của các cơ sở Giáo dục nghề nghiệp
Ông Dương Đức Lân tái đắc cử Chủ tịch Hiệp hội GDNN và nghề CTXH Việt Nam
10 thành tựu nổi bật của Ngành Lao động - Thương binh và Xã hội giai đoạn 2016-2020
Để đào tạo giáo dục nghề nghiệp gắn kết với thị trường lao động và việc làm
Dấu ấn giáo dục nghề nghiệp năm 2020 và giai đoạn 2016-2020
Thêm một năm khẳng định vị trí vai trò của giáo dục nghề nghiệp
"Đào tạo nhân lực thị trường cần chứ không đào tạo những gì ta có"
Không chuyển đổi số giống như có điện mà vẫn thắp đèn dầu
10 năm tới 600 cơ sở giáo dục nghề nghiệp chuyển đổi số hoàn toàn
Hội thảo “Ý nghĩa Đưa nội dung quyền con người vào chương trình giáo dục nghề nghiệp”
Quảng Nam: Hơn 54.000 lao động nông thôn được hỗ trợ học nghề
Xây dựng khung tham chiếu trình độ Việt Nam – ASEAN
Tạo đột phá trong Chiến lược phát triển giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2021 - 2030
“Giáo dục nghề nghiệp có thể giúp Việt Nam đi đầu trong kinh tế số”
Học sinh tốt nghiệp THCS lấy bằng CĐ không cần học trung cấp?
Thúc đẩy chuyển đổi số trong giáo dục nghề nghiệp
HỘI NGHỊ KHỞI ĐỘNG DỰ ÁN “CHƯƠNG TRÌNH KỸ NĂNG VÀ KIẾN THỨC CHO TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TOÁN DIỆN” SỬ DỤNG VỐN ODA CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN CHÂU Á (ADB)
    
1   2  
    
















    
xxnx video adult video hardcore webcam porn sexy video