Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ GẮN VỚI GIẢI QUYÊT VIỆC LÀM CHO ĐỒNG BÀO DTTS – MIỀN NÚI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM THỜI GIAN QUA, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP TRONG THỜI GIAN ĐẾN

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách ưu tiên trong đầu tư phát triển nguồn nhân lực cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Trong đó, chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn, cho đồng bào dân tộc thiểu số đã mang lại những kết quả thiết thực, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Có thể nói, chính sách đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số là một trong những giải pháp căn cơ, thiết thực nhằm giúp cho cộng đồng các tộc người thiểu số có việc làm ổn định, vươn lên thoát nghèo bền vững.

Riêng ở tỉnh Quảng Nam, bên cạnh triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Trung ương, tỉnh đã ban hành nhiều chương trình, đề án về phát triển dạy nghề nói chung, trong đó có dạy nghề gắn với giải quyết việc làm cho đồng bào DTTS và miền núi. Đặc biệt, trong năm 2016, HĐND tỉnh đã thông qua Nghị quyết số 12/2016/NQ-HĐND và UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 3577/QĐ-UBND về Cơ chế hỗ trợ đào tạo lao động cho các chương trình, dự án trọng điểm và các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016-2020 (Sau đây gọi tắt là Cơ chế). Có thể nói rằng, Cơ chế này là một chính sách vượt trội của tỉnh Quảng Nam nhằm phát triển nguồn nhân lực đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng, trong đó ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề gắn với việc làm cho vùng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Chính sách hỗ trợ theo Cơ chế này bao phủ tất cả các đối tượng người lao động. Riêng đối với lao động là người dân tộc thiểu số, khi tham gia học nghề sẽ được hỗ trợ hoàn toàn chi phí đào tạo, tiền ăn (kể cả tiền ăn trong những ngày nghỉ học theo quy định), tiền đi lại, tiền thuê nhà, tiền mua đồ dùng cá nhân trong thời gian học nghề; sau khi học nghề sẽ được giải quyết việc làm ngay tại doanh nghiệp và tiếp tục được hỗ trợ tiền thuê nhà với thời gian tối đa 24 tháng.

Trong giai đoạn 2016-2020, nhiều hoạt động triển khai công tác đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm cho lao động nông thôn được tổ chức thực hiện khá tốt trên địa bàn tỉnh, như: đẩy mạnh công tác truyền thông về dạy nghề, tư vấn, hướng nghiệp…bằng nhiều hình thức: trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên trang thông tin điện tử của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội và các cơ sở GDNN, trực tiếp đến học sinh, người lao động; định kỳ điều tra khảo sát và dự báo nhu cầu học nghề, tư vấn về học nghề và việc làm; tổ chức các hội nghị sơ kết, giao ban định kỳ; tổ chức các đoàn công tác trực tiếp đi làm việc với các địa phương để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc; tổ chức các hội nghị tập huấn, xây dựng các mô hình dạy nghề hiệu quả, thích hợp cho lao động nông thôn...


(Trường Trung cấp nghề Thanh niên Dân tộc - Miền Núi Quảng Nam khai giảng một lớp đào tạo nghề cho đồng bào người dân tộc thiểu số tại huyện Nam Trà My)
Nhờ triển khai thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, gắn đào tạo nghề với giải quyết việc làm và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương, công tác đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm cho đồng bào DTTS và miền núi của tỉnh thời gian qua (2016-2020) đạt được kết quả tiêu biểu sau:

- Đối với Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg: hơn 15.000 lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh đã được hỗ trợ học nghề (trong đó: 3.772 lao động là người DTTS), trên 75% học viên tìm được việc làm, tự tạo được việc làm ổn định và biết vận dụng kiến thức đã học vào thực tế kinh doanh, dịch vụ, sản xuất, chăn nuôi, trồng trọt. 

- Đối với Cơ chế hỗ trợ đào tạo lao động của tỉnh: có tổng cộng 5.322 người được hỗ trợ đào tạo theo Cơ chế, trong đó 2.614 người là đồng bào dân tộc thiểu số (chiếm 49,1%). Đã hoàn thành khóa học 4.781 người, đang học dở dang 272 người, bỏ học giữa chừng 269 người. Có tổng cộng 4.573 người (trong đó 1.982 người là đồng bào dân tộc thiểu số, chiếm 43,3%) sau học nghề vào làm việc tại doanh nghiệp, chiếm tỷ lệ 95,6% trên tổng số lao động hoàn thành khóa học. Hầu hết lao động là người DTTS sau khi đào tạo được tiếp nhận và làm việc ổn định tại doanh nghiệp với mức thu nhập bình quân 5-6 triệu đồng/tháng.

Trong quá trình triển khai thực hiện Cơ chế, đã xuất hiện một số cách làm hay, hiệu quả, như: ngay từ khâu tư vấn, tuyển sinh, một số cơ sở GDNN đã kết hợp doanh nghiệp, phối hợp với địa phương thông tin cụ thể người lao động sau học nghề sẽ làm việc tại doanh nghiệp nào, thu nhập bao nhiêu, điều kiện làm việc ra sao...; trước khi khai giảng, một số cơ sở GDNN đã tổ chức cho người lao động  là đồng bào dân tộc thiểu số đi thăm quan một số doanh nghiệp để tìm hiểu, nắm bắt thực tế để có sự lựa chọn; tổ chức đào tạo theo mô hình khép kín, vừa đào tạo ở nhà trường, vừa đào tạo tại doanh nghiệp để người lao động quen dần với môi trường làm việc và đáp ứng ngay yêu cầu công nghệ của doanh nghiệp; khi bàn giao lao động cho doanh nghiệp, các địa phương, cơ sở GDNN cử cán bộ theo dõi, quan tâm, động viên người lao động trong thời gian đầu, phối hợp doanh nghiệp tìm kiếm chỗ ăn chỗ nghỉ cho người lao động, thường xuyên giữ liên lạc với doanh nghiệp để theo dõi, nắm bắt tình hình…

Kết quả trên đã góp phần tích cực trong việc thay đổi tư duy lao động sản xuất của người dân, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, dạy nghề gắn với giải quyết việc làm, góp phần nâng cao thu nhập, ổn định cuộc sống, nhiều hộ gia đình thoát nghèo trở thành hộ khá, góp phần rất lớn trong kết quả giảm nghèo của các địa phương, đặt biệt là khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong thời gian qua.

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động là người DTTS thời gian qua vẫn còn một số tồn tại hạn chế, như: nhận thức, thái độ, ý thức học nghề của một bộ phận người DTTS còn hạn chế, chưa thật sự hiểu biết đầy đủ về sự cần thiết và lợi ích của việc học nghề đối với tăng năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, giải quyết việc làm, giảm nghèo bền vững…; chưa chủ động, tích cực tham gia học nghề. Một số phong tục, tập quán ở địa phương đã ảnh hưởng tới việc học tập của người học. Còn một bộ phận lao động là người dân tộc thiểu số không muốn xa gia đình nên việc học nghề để chuyển dịch cơ cấu lao động gặp khó khăn. Tâm lý xã hội vẫn còn chú trọng việc học đại học; coi việc học nghề chưa phải là chỗ dựa vững chắc đối với việc lập nghiệp, tìm việc làm và tự tạo việc làm ổn định lâu dài của người lao động…

Phát huy những kết quả đạt được, khắc phục những tồn tại hạn chế, để đảm bảo mục tiêu nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề, nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập của lao động DTTS, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế, xây dựng nông thôn mới phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh trong thời gian đến, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội sẽ tập trung triển khai những giải pháp cụ thể sau:

Thứ nhất, tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức của các ngành, các cấp, các tầng lớp xã hội, các doanh nghiệp về công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn; tăng cường công tác tư vấn hướng nghiệp rộng rãi trong cộng đồng, nhất là trong đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần thay đổi nhận thức của xã hội về học nghề lập nghiệp.

Thứ hai, tổ chức nhiều hình thức, hoạt động tuyên truyền thích hợp để nâng cao nhận thức cho các già làng, trưởng bản, người có uy tin trong cộng đồng dân tộc thiểu số để họ thường xuyên giáo dục con em tại thôn, bản mình có động cơ học nghề lập nghiệp; động viên, khuyến khích con em mình mạnh dạn tham gia học nghề, vào làm việc tại các doanh nghiệp để tạo thu nhập ổn định cho bản thân, góp phần  ổn định cuộc sống gia đình.

Thứ ba, các địa phương, cơ sở giáo dục nghề nghiệp tăng cường làm việc với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh để nắm bắt chính xác thông tin về số lượng lao động tuyển dụng, yêu cầu về tay nghề, độ tuổi, sức khỏe… của người lao động, các quyền lợi của người lao động được hưởng khi vào làm việc tại doanh nghiệp để nhằm ký kết, hợp tác đào tạo những ngành nghề phù hợp và giải quyết việc làm cho học viên DTTS sau khi họ được học nghề.

Thứ tư, tạo điều kiện để lao động DTTS sau học nghề được tiếp cận và vay các nguồn vốn ưu đãi để phát triển sản xuất, chuyển đổi nghề nghiệp phù hợp, hạn chế tình trạng người lao động sau học nghề vẫn không tìm được việc làm.

Thứ năm, tăng cường, phát huy hoạt động của sàn giao dịch việc làm tỉnh; tổ chức các phiên giao dịch việc làm lưu động tại các địa phương khu vực miền núi để hỗ trợ cung cấp thông tin về việc làm, học nghề cho lao động là người dân tộc thiểu số. Tổ chức tốt công tác điều tra thu thập thông tin cung, cầu lao động để xây dựng cơ sở dữ liệu thị trường lao động, phục vụ công tác xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương, xây dựng các chương trình đào tạo nghề, giải quyết việc làm.

Thứ sáu, tổ chức tuyên truyền, biểu dương các điển hình tiên tiến, biểu dương những hộ gia đình giỏi sản xuất giỏi, những cá nhân tiêu biểu đạt thành tích cao trong lao động sản xuất, chuyển đổi sinh kế bền vững nhờ các ngành nghề được đào tạo để tạo sức lan tỏa trong cộng đồng./.

Nguồn tin: Phòng Dạy nghề
Người đăng: Trần Đình Quế .Ngày đăng: 19/01/2021 .Lượt xem: 113 lượt.
[Trở về]
Các tin mới hơn:
8 nhiệm vụ và giải pháp của giáo dục nghề nghiệp trong năm 2021
TS Trương Anh Dũng, Tổng cục trưởng Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp: Giáo dục nghề nghiệp - khâu đột phá để phát triển nguồn nhân lực
Cam kết cung cấp đủ nhân lực có kỹ năng nghề cho các doanh nghiệp Nhật Bản
Số hóa và Giáo dục nghề nghiệp ở Đức: Những thách thức và cách tiếp cận
Ứng dụng hướng nghiệp trên điện thoại di động - “ILO-Huong nghiep”: Hỗ trợ học sinh lựa chọn nghề nghiệp
GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP TỈNH QUẢNG NAM, THÀNH QUẢ ĐẠT ĐƯỢC TRONG 5 NĂM QUA, ĐỊNH HƯỚNG NHIỆM VỤ TRONG 5 NĂM ĐẾN
Các tin cũ hơn:
Hội thảo truyền thông về giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2021 – 2025
Đa dạng các hình thức truyền thông về giáo dục nghề nghiệp
Mạng lưới cơ sở Giáo dục nghề nghiệp - Ngành, nghề đào tạo của các cơ sở Giáo dục nghề nghiệp
Ông Dương Đức Lân tái đắc cử Chủ tịch Hiệp hội GDNN và nghề CTXH Việt Nam
10 thành tựu nổi bật của Ngành Lao động - Thương binh và Xã hội giai đoạn 2016-2020
Để đào tạo giáo dục nghề nghiệp gắn kết với thị trường lao động và việc làm
Dấu ấn giáo dục nghề nghiệp năm 2020 và giai đoạn 2016-2020
Thêm một năm khẳng định vị trí vai trò của giáo dục nghề nghiệp
"Đào tạo nhân lực thị trường cần chứ không đào tạo những gì ta có"
Không chuyển đổi số giống như có điện mà vẫn thắp đèn dầu
10 năm tới 600 cơ sở giáo dục nghề nghiệp chuyển đổi số hoàn toàn
Hội thảo “Ý nghĩa Đưa nội dung quyền con người vào chương trình giáo dục nghề nghiệp”
Quảng Nam: Hơn 54.000 lao động nông thôn được hỗ trợ học nghề
Xây dựng khung tham chiếu trình độ Việt Nam – ASEAN
Tạo đột phá trong Chiến lược phát triển giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2021 - 2030
“Giáo dục nghề nghiệp có thể giúp Việt Nam đi đầu trong kinh tế số”
Học sinh tốt nghiệp THCS lấy bằng CĐ không cần học trung cấp?
Thúc đẩy chuyển đổi số trong giáo dục nghề nghiệp
HỘI NGHỊ KHỞI ĐỘNG DỰ ÁN “CHƯƠNG TRÌNH KỸ NĂNG VÀ KIẾN THỨC CHO TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TOÁN DIỆN” SỬ DỤNG VỐN ODA CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN CHÂU Á (ADB)
Bộ trưởng cao cấp Singapore kêu gọi chú trọng đào tạo nghề
    
1   2  
    
















    
xxnx video adult video hardcore webcam porn sexy video