Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search
KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT SỐ 15-NQ/TW NGÀY 01/6/2012 CỦA BCH TRUNG ƯƠNG KHÓA XI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM
KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT SỐ 15-NQ/TW NGÀY 01/6/2012 CỦA BCH TRUNG ƯƠNG KHÓA XI “MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CHÍNH SÁCH XÃ HỘI GIAI ĐOẠN 2012 - 2020” TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM

Quảng Nam là tỉnh có số lượng đối tượng chính sách người có công với cách mạng đông (chiếm 23% dân số toàn tỉnh) với 65.400 liệt sĩ; trên 30.500 thương bệnh binh; trên 45.500 người có công giúp đỡ cách mạng; trên 11.700 người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù đày; trên 33.700 người tham gia kháng chiến được tặng thưởng huân, Huy chương; trên 6000 người tham gia kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học… Đặc biệt, cả tỉnh có trên 15.184 Bà mẹ được Đảng, Nhà nước phong tặng và truy tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”. Là địa phương chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh, lại thường xuyên bị thiên tai bão lụt nên đời sống của nhân dân nói chung, người có công nói riêng còn gặp nhiều khó khăn. Hiện nay, còn 689 hộ nghèo là người có công cách mạng đang hưởng chính sách ưu đãi hàng tháng.



Quảng Nam có trên 104.000 người đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng. Trong đó: có hơn 42.600 người cao tuổi; gần 67 ngàn người khuyết tật, trong đó 47.200 người khuyết tật nặng và đặc biệt nặng; 900 người đang được nuôi dưỡng tại các cơ sở bảo trợ…  Đa số người khuyết tật không có việc làm, sức khỏe kém nên đời sống còn khó khăn, chủ yếu dựa vào trợ cấp bảo trợ xã hội của nhà nước; gia đình và bản thân người khuyết tật còn nhiều khó khăn trong cuộc sống nên rất hạn chế trong tham gia vào các hoạt động cũng như tiếp cận các dịch vụ xã hội.

Theo kết quả điều tra, rà soát năm 2018: Toàn tỉnh có 31.537 hộ nghèo chiếm tỷ lệ 7,57%, có 13.841 hộ cận nghèo chiếm tỷ lệ 3,32% (cao hơn mức bình quân chung của cả nước). Trong đó: 2,08% hộ nghèo thuộc đối tượng bảo trợ xã hội nên khó có khả năng thoát nghèo.

Với những đặc điểm trên, trong những năm qua, cùng với sự nổ lực phấn đấu, tập trung phát triển kinh tế - xã hội, quan tâm đến đào tạo tạo nghề, giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động, Đảng bộ, chính quyền tỉnh Quảng Nam luôn xác định công tác lao động, người có công và xã hội là nhiệm vụ chính trị quan trọng, thường xuyên quan tâm và đã ban hành nhiều cơ chế chính sách, triển khai thực hiện có hiệu quả, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Sau khi Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết số 15-NQ/TW “Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 – 2020”, Tỉnh ủy Quảng Nam ban hành Chương trình hành động số 17-CTr/TU ngày 01/10/2012 về thực hiện Nghị quyết; Tỉnh ủy cũng đã ban hành nhiều Nghị quyết chuyên đề: Nghị quyết 05/NQ-TU ngày 17/8/2016 về phát triển kinh tế xã hội miền núi gắn với định hướng thực hiện một số dự án lớn tại vùng Tây tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2025; Nghị quyết 02-NQ/TU ngày 22/4/2016 về đẩy mạnh công tác giảm nghèo bền vững, giai đoạn 2016 - 2020 trên địa bàn tỉnh Quảng Nam... Để các Nghị quyết đi vào cuộc sống: các cấp, các ngành, địa phương trong tỉnh ban hành nhiều nghị quyết, quyết định, chương trình, kế hoạch cụ thể để triển khai thực hiện. Các cấp ủy Đảng, Mặt trận, Đoàn thể tuyên truyền, phổ biến, giáo dục nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động hiểu rõ chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước về các chính sách an sinh xã hội, coi đây là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng của địa phương, mang tính nhân văn sâu sắc, từ đó chủ động đề ra các giải pháp phù hợp nhằm mục tiêu bảo đảm tốt an sinh xã hội, chăm lo cải thiện và không ngừng nâng cao đời sống cho người dân.


Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành nhiều Nghị quyết, cơ chế đặc thù cho các đối tượng yếu thế như khuyến khích đào tạo nghề cho lao động miền núi; Nghị quyết 13/2017/NQ-HĐND về chính sách khuyến khích thoát nghèo bền vững; Nghị quyết 49/2018/NQ-HĐND về chính sách hỗ trợ cải thiện mức sống cho một số đối tượng thuộc hộ nghèo đang hưởng chính sách người có công cách mạnh và bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Nam và một số Nghị quyết về các lĩnh vực, chuyên ngành... Sau khi có các Nghị quyết của HĐND tỉnh, UBND tỉnh đã ban hành các Quyết định và chỉ đạo việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội, tạo điều kiện cho các ngành chức năng có liên quan thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh.

Nhìn chung qua 07 năm triển khai thực hiện Nghị quyết 15-NQ/TW trên địa bàn tỉnh Quảng Nam đã thực hiện đạt những kết quả khá toàn diện trên các lĩnh vực:

          - Làm tốt công tác xác nhận hồ sơ, thực hiện chế độ, chính sách  đối với người có công và thân nhân của họ, từ năm 2012 đến năm 2018 có trên 210.100 người được công nhận và giải quyết chế độ ưu đãi người có công với cách mạng; đồng thời thực hiện có hiệu quả công tác mộ - nghĩa trang liệt sĩ và các hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa”. Triển khai kịp thời, hiệu quả Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng, vinh danh Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, các nghị định, quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và nhiều văn bản hướng dẫn của các Bộ, ngành liên quan ; vận động các tổ chức, cá nhân nhận phụng dưỡng suốt đời “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” còn sống . Xây mới 7.548 nhà và sửa chữa 19.387 nhà cho các đối tượng chính sách, tổng kinh phí thực hiện 760.720 triệu đồng.

 - Chương trình cho vay hỗ trợ việc làm được duy trì và mở rộng qua các năm; từ năm 2015 đến ngày 31/5/2019, doanh số cho vay đạt 298.326 triệu đồng; giải quyết việc làm hơn 50 ngàn người lao động.

 - Công tác đào tạo nghề cho lao động khu vực nông thôn được chú trọng;  tỉnh đã ban hành nhiều cơ chế đặc thù, góp phần nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 47,8% năm 2014 lên 58,51% năm 2018. Tư vấn, giới thiệu việc làm cho 138.955 lượt người; góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động trên địa bàn toàn tỉnh (đến nay lao động nông nghiệp còn dưới 40%). 

- Kết quả giảm nghèo qua từng giai đoạn cũng đã đạt được chỉ tiêu đề ra:

+ Giai đoạn 2012 – 2015: Giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân 2,72%/năm, từ 20,90% đầu năm 2012 giảm còn 10,03% vào cuối năm 2015. Tính đến 31/12/2015 trên địa bàn tỉnh còn 40.284 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 10,03%. 

+ Giai đoạn 2016 – 2018: Áp dụng chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 - 2020, đầu năm 2016 toàn tỉnh có 20.280 hộ nghèo, đến cuối năm 2018, toàn tỉnh còn 31.537 hộ nghèo, tỷ lệ 7,57%; giảm 5,33% so với đầu năm 2016 (12,90%), bình quân giảm 1,78%/năm.

 - Đối tượng tham gia BHXH, BHTN ngày càng tăng: Năm 2012 có 110.000 người tham gia BHXH bắt buộc và 91.000 người tham gia BHTN, đến năm 2018 có 179.000 người tham gia BHXH bắt buộc (tăng 62,72%) và 158.000 người tham gia BHTN (tăng 73,62). Về số người tham gia BHYT: năm 2012: 1.117.848 người tham gia, tỷ lệ 77,87%;  đến năm 2018: 1.393.627 người tham gia,  tỷ lệ 92,91%.

  - Thực hiện chính sách trợ cấp xã hội thường xuyên cho các đối tượng bảo trợ xã hội như trẻ em mồ côi, trẻ em mất nguồn nuôi dưỡng, người cao tuổi, người khuyết tật, người đơn thân thuộc diện hộ nghèo… đã được các địa phương triển khai thực hiện đẩy đủ, kịp thời, hiệu quả. Đối tượng thuộc diện được trợ giúp ngày càng được mở rộng, đến tháng 6 năm 2019 toàn tỉnh có 104.788 đối tượng trợ cấp  BTXH; một số nhớm đối tượng được hỗ trợ cao hơn mức chuẩn Trung ương quy định, như theo Quyết định số 1558/QĐ-UBND  ngày 15/5/2015 của UBND tỉnh đã nâng mức chuẩn trợ cấp cho người khuyết tật đặc biệt nặng được nuôi dưỡng tại các cơ sở bảo trợ xã hội lên 360.000 đồng (mức quy định Trung ương 270.000 đồng); theo Nghị quyết số 49/2018/NQ-HĐND của HĐND tỉnh đã nâng mức hỗ trợ cho đối tượng người cao tuổi, người khuyết tật nặng và đặc biệt nặng đang sống trong hộ nghèo thuộc diện bảo trợ xã hội tăng gấp 1,5 lần quy định Trung ương…với tổng  kinh phí thực hiện hơn 600 tỷ đồng/năm.

- Tỉnh Quảng Nam chú trọng công tác quy hoạch, sắp xếp, xây dựng khu dân cư gắn với Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới cho đồng bào ở các huyện miền núi để họ có chỗ ở ổn định, có đất sản xuất. Năm 2017, tỉnh đã bố trí kinh phí để sắp xếp chỗ ở, hỗ trợ tiền làm nhà cho gần 1.500 hộ đồng bào; hỗ trợ người dân phát triển sản xuất… Các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam thực hiện hiệu quả việc đa dạng sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo thuộc các Chương trình 135 và Nghị quyết 30a của Chính phủ; hỗ trợ phát triển lâm nghiệp gắn với giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa; hỗ trợ đồng bào phát triển dược liệu theo cơ chế khuyến khích của địa phương. đầu tư xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng, phát triển sản xuất cho các huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn, vùng bãi ngang ven biển và hải đảo. Đến nay, bộ mặt nông thôn miền núi Quảng Nam đã có nhiều khởi sắc, đời sống đồng bào các dân tộc được cải thiện rõ rệt, nhiều gia đình thoát nghèo bền vững.

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện các chính sách xã hội cũng còn nhiều khó khăn, hạn chế như:

- Vẫn còn 689 hộ nghèo thuộc hộ gia đình có công cách mạng đang hưởng trợ cấp hàng tháng, vì còn một số đối tượng hưởng mức trợ cấp dưới chuẩn nghèo (dưới 1triệu đồng/ người/tháng).

- Đối với các trường hợp hy sinh không còn giấy tờ gốc nhưng áp dụng để xác nhận liệt sỹ theo Thông tư liên tịch số 28/2013/TTLT-BLĐTBXH-BQP ngày 22/10/2013 còn nhiều vướng mắc: đề nghị các Bộ ngành liên quan sớm sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch số 28/2013/TTLT-BLĐTBXH-BQP theo hướng có hai người xác nhận, kèm theo quá trình tham gia cách mạng của nhân chứng xác nhận để kiểm tra, đối chiếu với quá trình tham gia cách mạng của người hy sinh.

Trung ương cần sớm sửa đổi Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng và tiếp tục nghiên cứu sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật để phù hợp với tình hình thực tiễn và đảm bảo tính ổn định trong việc thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng.

- Thời gian qua, Trung ương và tỉnh đã có nhiều cơ chế, chính sách, đầu tư nguồn lực để xóa nghèo, đã giúp cho người dân vùng đặc biệt khó khăn nâng cao chất lượng sống, nhưng vẫn có một số chương trình hỗ trợ trực tiếp, nhỏ lẻ, chồng chéo, hiệu quả chưa cao, dẫn đến tư tưởng trông chờ, ỷ lại, chưa nỗ lực vươn lên thoát nghèo; tỷ lệ hộ nghèo ở khu vực miền núi Quảng Nam còn cao (trên 25%)... Trong thời gian tới đề nghị Quốc hội, Chính phủ nên tích hợp các chương trình đầu tư để phát triển toàn diện kinh tế xã hội miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, để người dân có điều kiện phát triển sản xuất; nghiên cứu tiếp tục giảm dần các chính sách hỗ trợ cho không để người dân nâng cao khả năng tự bảo đảm an sinh, khuyến khích sự tích cực, chủ động tham gia của người nghèo trong việc thoát nghèo và bổ sung một số chính sách hỗ trợ phù hợp đối với hộ mới thoát nghèo theo hướng “hỗ trợ có điều kiện”, “cùng tham gia” gắn với “cam kết” của đối tượng thụ hưởng trong việc sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả nguồn lực hỗ trợ.

- Rà soát, sửa đổi, bổ sung để đảm bảo hệ thống các cơ chế, chính sách xã hội có tính thống nhất giữa các ngành, các lĩnh vực và tạo điều kiện cho cơ sở thực hiện hiệu quả, cụ thể như : Một số nội dung hướng dẫn về xác định dạng tật và mức độ khuyết tật đối với người khuyết tật có sự khác nhau (tại Thông tư số 34/2012/TTLB-BYT-BLĐTBXH và Thông tư số 37/2012/TTLT-BLĐTBXH-BYT-BTC-BGDĐT nay là Thông tư 01/2019/TT-BLĐTBXH) nên khó khăn trong tổ chức thực hiện.

- Các đối tượng bảo trợ xã hội sống dựa vào trợ cấp xã hội hàng tháng là chính, với mức chuẩn trợ cấp xã hội  Trung ương quy định là 270.000 đồng (hệ số 1,0) còn quá thấp so với nhu cầu tối thiểu hiện nay, đề nghị nâng mức chuẩn trợ cấp xã hội phải đảm bảo nhu cầu tối thiểu của người dân (bằng hoặc cao hơn chuẩn nghèo nghèo hiện hành) và điều chỉnh kịp thời với mức sống chung của xã hội. 

- Đề nghị Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quan tâm hỗ trợ kinh phí xây dựng phần mềm số hoá hồ sơ người có công; đồng thời sớm xây dựng chương trình quản lý hồ sơ người có công thống nhất quản lý trên toàn quốc, thuận lợi cho việc khai thác các thông tin trong giải quyết chế độ chính sách đối với người có công với cách mạng. Hướng đến xây dựng phần mềm tích hợp quản lý tất cả các đối tượng: Người có công, đối tượng bảo trợ, hộ nghèo… từ Trung ương đến cấp cơ sở một cách thống nhất trong toàn quốc để thuận lợi cho việc quản lý, cập nhật thông tin, dữ liệu, theo dõi giải quyết các chế độ chính sách kịp thời, công khai minh bạch, tránh chồng chéo, thiếu sót./.

Người đăng: Lưu Thị Bích Ngọc .Ngày đăng: 02/10/2019 .Lượt xem: 544 lượt.
[Trở về]
Các tin cũ hơn:
Bí thư Tỉnh ủy Phan Việt Cường thăm, tặng quà người cao tuổi
Lãnh đạo tỉnh đến thăm và tặng quà Tết trung thu cho trẻ em
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đón Tết Trung thu cùng trẻ em Quảng Nam
Phó Chủ tịch nước Đặng Thị Ngọc Thịnh vui trung thu cùng trẻ em Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam
Gặp mặt Cán bộ Lãnh đạo Ngành LĐ-TB& XH Khu vực Miền Trung và Tây Nguyên
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc dâng hương tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ tại tỉnh Quảng Nam
Chủ tịch UBND tỉnh Đinh Văn Thu thăm Sở Lao động-Thương binh và Xã hội và Trung tâm GĐYK tỉnh nhân dịp 27.7
Lãnh đạo tỉnh viếng hương, tri ân người có công huyện Hiệp Đức, Quế Sơn
Lãnh đạo tỉnh viếng hương liệt sĩ, thăm gia đình liệt sĩ, người có công, các đơn vị tại Thăng Bình, Hội An, Đà Nẵng
Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Phan Việt Cường và Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Lê Văn Dũng viếng hương, tri ân người có công cách mạng
    
1   2